CHÀO MỪNG QUÝ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI THƯ VIỆN SÁCH NÔNG NGHIỆP | EBOOK NÔNG NGHIỆP | GIÁO TRÌNH NÔNG NGHIỆP
Tài Liệu Nông Nghiệp là một Blog cá nhân chia sẻ ebook sách nông nghiệp, giáo trình nông nghiệp phục vụ cho học tập và nghiên cứu. Tất cả là miễn phí và phi thương mại. Admin không chịu trách nhiệm về mọi hành vi, lời nói, tính hợp lệ của nội dung. Cá nhân hoặc tổ chức không muốn nội dung của mình xuất hiện trên Blog vui lòng liên hệ Admin để gỡ nội dung của mình xuống.
Tìm kiếm Ebook:
⇩⇩⇩ HƯỚNG DẪN TẢI EBOOK TRÊN BLOG ⇩⇩⇩
❗️❗️❗️ HƯỚNG DẪN TẢI EBOOK TRÊN TRANG BLOG TAILIEUNONGNGHIEP.COM
Xin thông báo link download ở mediafire đã die , khi download những tài liệu đó bạn sẽ gặp thông báo " Something appears to be mis...
[EBOOK] SỬ DỤNG PHÂN BÓN TỪ PHỤ PHẨM KHÍ SINH HỌC (BIOGAS) BÓN CHO CÂY TRỒNG, PGS. TS. ĐINH THẾ LỘC, NXB KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀ CÔNG NGHỆ
[EBOOK] BÁO CÁO RÀ SOÁT NÔNG NGHIỆP VÀ LƯƠNG THỰC CỦA OECD: CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM
Báo cáo rà soát này đánh giá bối cảnh chính sách và xu hướng chính của nông nghiệp Việt Nam. Báo cáo phân loại và xác định các hỗ trợ cho nông nghiệp bằng cách áp dụng cùng một phương pháp mà OECD dùng để giám sát các chính sách nông nghiệp của các nước OECD và một số nước không phải là thành viên của OECD, như Brazil, Trung Quốc, Colombia, Indonesia, Kazakhstan, Nga, Nam Phi và Ukraine. Theo yêu cầu từ các cơ quan chức năng Việt Nam, Báo cáo bao gồm một chương đặc biệt về môi trường chính sách đầu tư cho nông nghiệp, lấy từ khung chính sách OECD cho đầu tư trong nông nghiệp (PFIA). Báo cáo là bước khởi đầu hướng tới việc OECD hợp tác thường xuyên với Việt Nam về các vấn đề chính sách nông nghiệp thông qua việc giám sát và đánh giá hàng năm quá trình phát triển các chính sách nông nghiệp.
Nghiên cứu này được Phòng Phát triển của Cục Thương mại và Nông nghiệp (TAD) phối hợp với Phòng Đầu tư của Cục Tài chính và Doanh nghiệp của OECD thực hiện. Andrzej Kwiecinski đã điều phối quá trình viết báo cáo và là một trong những tác giả, cùng với một số chuyên gia khác như Darryl Jones và Coralie David. Chương 1 được viết dựa trên một báo cáo nền của Richard Barichello (Đại học British Columbia, Vancouver, Canada), cũng như các đóng góp của Claire Delpeuch và Gaelle Gourin (TAD). Đào Thế Anh (Trung tâm Nghiên cứu hệ thống phát triển nông nghiệp, CASRAD, Việt Nam), Trần Công Thắng và Đinh Bảo Linh (Viện Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, IPSARD, Việt Nam) cung cấp thông tin cơ bản có giá trị cho Chương 2. Chương 3 được viết dựa thông tin từ phiêu điều tra PFIA do do Tạ Kim Cúc (Trung tâm Tin học và Thống kê, Bộ NN & PTNT) cung cấp và đóng góp của Bishara Mansur (DAF). Cơ sở dữ liệu để ước tính hỗ trợ người sản xuất được Florence Bossard và Andrzej Kwiecinski xây dựng, phối hợp tác chặt chẽ với Phan Sỹ Hiếu (Trung tâm Tin học và Thống kê, Bộ NN & PTNT). Các hỗ trợ về thống kê được cung cấp bởi Florence Bossard. Anita Lari hỗ trợ các hoạt động về hành chính và thư ký. Anita Lari và Michèle Patterson hỗ trợ việc xuất bản. Ken Ash, Carmel Cahill, Jared Greenville, Shingo Kimura, Iza Lejarraga, Silvia Sorescu, Frank Van Tongeren, Trudy Witbreuk (Ban Thư ký OECD), Chris Jackson và Steven Jaffee (Văn phòng Ngân hàng Thế giới tại Hà Nội), Marlo Rankin (FAO), các đại biểu Bộ NN & PTNT tham gia đánh giá báo cáo, cũng như Phan Sỹ Hiếu (Bộ NN & PTNT), Đào Thế Anh (CASRAD), Nguyễn Trung Kiên (IPSARD) và nhiều đồng nghiệp khác trong Ban Thư ký OECD và đại biểu các quốc gia thành viên đã có các góp ý giá trị cho các dự thảo ban đầu của báo cáo.
Báo cáo này nhận được nhiều hỗ trợ từ Bộ NN & PTNT Phạm Thị Hồng Hạnh và Đinh Phạm Hiền, Vụ Hợp tác quốc tế của Bộ NN & PTNT, là đầu mối chính và kết nối với các đối tác liên quan tới nghiên cứu này. Nghiên cứu cũng nhận được nhiều hỗ trợ từ các cán bộ của Bộ NN & PTNT và các tổ chức liên quan, từ các Bộ khác và từ các đại biểu tại các hội thảo tham vấn tại Hà Nội, bao gồm các nhà nghiên cứu từ các học viện.
Nghiên cứu này có thể được thực hiện nhờ đóng góp tình nguyện từ Australia, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Nghiên cứu được rà soát tại cuộc họp bàn tròn trong nước vói các quan chức và chuyên gia Việt Nam tại Hà Nội vào tháng 3/2015. Sau đó, đoàn đại biểu Việt Nam do ông Trần Kim Long, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế của Bộ NN & PTNT dẫn đầu đã tham gia cuộc họp rà soát các chính sách nông nghiệp Việt Nam của Ủy ban nông nghiệp OECD, tổ chức tại kỳ họp thứ 164 vào tháng 5/2015. Steve Neff (ERS-USDA, Hoa Kỳ), Matthew Worrell (DFAT, Australia) và Kunimitsu Masui (Phái đoàn thường trực của Nhật Bản với các nước OECD) đã chủ trì cuộc họp rà soát này. Các quan chức và chuyên gia Việt Nam đã tham gia thảo luận đề cương nghiên cứu thông qua đánh giá độc lập và tới phiên bản cuối cùng, nhưng nội dung của báo cáo cuối cùng vẫn hoàn toàn thuộc trách nhiệm của OECD.
[EBOOK] CHUYỂN ĐỔI NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM: TĂNG GIÁ TRỊ, GIẢM ĐẦU VÀO, NHÓM NGÂN HÀNG THẾ GIỚI, NXB HỒNG ĐỨC
Nhưng các thay đổi về nhân khẩu học, kinh tế, thời tiết và các thay đổi khác đã làm cho sân chơi nông nghiệp cũng thay đổi theo. Vì vậy ngành nông nghiệp cũng phải điều chỉnh để đối mặt với thách thức và nắm bắt cơ hội mới. Đề án Tái cơ cấu Nông nghiệp ban hành năm 2013 của Chính phủ đã nêu rõ cần thực hiện chuyển hướng chiến lược ngành, tăng cường thể chế cơ bản, và điều chỉnh vai trò và công cụ hỗ trợ của chính phủ.
Báo cáo Phát triển Việt Nam đi sâu phân tích các chủ điểm này và ủng hộ một chiến lược nhằm "tăng giá trị, giảm đầu vào" (tức là tăng phúc lợi cho nông dân, người tiêu dùng, và xã hội đồng thời sử dụng ít nguồn lực hơn và giảm bớt tác động tới môi trường). Có thể thực hiện mục tiêu đó bằng cách thay đổi cơ cấu mà trong đó chính phủ "giảm chỉ đạo, tăng kiến tạo", nhất là trong mối liên hệ với nông dân, đầu tư tư nhân, tăng năng suất lao động và phát triển thị trường.
Quá trình chuyển hướng chiến lược hiện đang diễn ra trên một vài lĩnh vực kỹ thuật và tại nhiều địa bàn; ngoài ra, các phương pháp hỗ trợ phát triển hệ thống ngành kinh doanh nông nghiệp cũng đang được thử nghiệm. Sắp tới sẽ xuất hiện thêm các cơ hội tiếp tục thử nghiệm và nhân rộng các sáng kiến đã qua thử nghiệm và chứng tỏ hiệu quả.
[EBOOK] SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM TỪ CÁCH TIẾP CẬN CHUYỂN ĐỔI SINH THÁI - XÃ HỘI: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH (AGRICULTURAL PRODUCTION IN VIETNAM FROM THE SOCIAL-ECOLOGICAL TRANSFORMATION APPROACH: OPPORTUNITIES, CHALLENGES AND POLICY IMPLICATIONS), ĐÀO THANH TRƯỜNG VÀ PHILIP DEGENHARDT (ĐỒNG CHỦ BIÊN), NXB LAO ĐỘNG
Biến đổi khí hậu và Đại dịch Covid - 19 đã và đang tạo ra những tác động kép đến sản xuất nông nghiệp, hệ thống thực phẩm và việc thực hiện các mục tiêu toàn cầu về phát triển bền vững. Là một quốc gia có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, Việt Nam cũng không ngoại lệ khi đang đứng trước những thách thức trong việc ứng phó với thiên tai, dịch bệnh và việc lựa chọn định hướng phát triển cho một nền nông nghiệp giàu bản sắc nhưng phải có khả năng thích ứng cao với những biến đổi xã hội đang diễn ra nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu.
Từ năm 2018, Viện Chính sách và Quản lý (IPAM) và Quỹ Rosa Luxemburg khu vực Đông Nam Á - Văn phòng đại diện tại Hà Nội đã cùng xây dựng ý tưởng một chuỗi các dự án từ tiếp cận chuyển đổi sinh thái - xã hội đầu tiên ở Việt Nam và bước đầu đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Sự chuyển đổi mô hình từ phát triển bền vững sang chuyển đổi sinh thái - xã hội là một điểm khởi đầu mà chúng tôi tin rằng có thể cung cấp những giải pháp giải quyết các thách thức trong phát triển nông nghiệp, khắc phục những hạn chế của các hệ thống nông nghiệp thâm dụng đầu vào, đặc biệt trong bối cảnh nỗ lực thích ứng với biến đổi khí hậu và cuộc khủng hoảng mang tên Covid-19.
Từ những kết quả bước đầu, ban điều phối dự án đã tiếp tục đề xuất và được sự tài trợ của Quỹ xuất bản cuốn sách với tựa đề “Sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam từ cách tiếp cận chuyển đổi sinh thái - xã hội: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách”. Cuốn sách tập hợp 20 bài viết là kết quả nghiên cứu, những ý tưởng mới nhất của các chuyên gia, các nhà khoa học về giải pháp, lộ trình của Việt Nam để vượt qua những thách thức của bối cảnh Covid-19 và biến đổi khí hậu. Ấn phẩm được kỳ vọng sẽ cung cấp những cách tiếp cận và khung mẫu mới trong phát triển nông nghiệp và hệ thống lương thực nhằm đảm bảo cân bằng sinh thái - xã hội.
Cuốn sách gồm hai phần:
Phần 1: Tiếp cận chuyển đổi sinh thái-xã hội với sản xuất nông nghiệp
Phần 1 tập hợp các bài viết khai thác những vấn đề lý thuyết, các cách tiếp cận và thuật ngữ liên quan đến chuyển đổi sinh thái - xã hội (SET) về sản xuất nông nghiệp và hệ thống lương thực, thực phẩm, dinh dưỡng. Trong đó, các tác giả và nhóm tác giả đi sâu phân tích giải pháp dựa vào tự nhiên cho sản xuất nông nghiệp chuyển đổi trong bối cảnh biến đổi toàn cầu, cũng như những thách thức về thể chế thúc đẩy phát triển bền vững ở Việt Nam và những điều kiện để Việt Nam hướng đến hệ thống nông thực phẩm bền vững, mô hình nào thay thế cho tăng trưởng thuần GDP.
Phần 2: Đảm bảo và phát triển hệ thống lương thực, thực phẩm, nông sản trong bối cảnh chuyển đổi sinh thái-xã hội ở Việt Nam
Bối cảnh biến đổi khí hậu và Đại dịch Covid-19 đã tạo ra những tác động mạnh mẽ đến an ninh lương thực, chủ quyền lương thực của các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Phần 2 cung cấp bức tranh toàn cảnh về sản xuất nông nghiệp và vấn đề phát triển hệ thống lương thực, thực phẩm ở Việt Nam từ tiếp cận chuyển đổi sinh thái - xã hội. Các bài viết tập trung trình bày kết quả nghiên cứu về thực tiễn, giải pháp để đảm bảo và phát triển hệ thống lương thực, thực phẩm, nông sản và những vấn đề liên quan khác như: phát triển chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm, chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm nông nghiệp mang tên địa danh; sử dụng phân bón cho sản xuất trồng trọt hướng đến một nền nông nghiệp sinh thái; du lịch nông nghiệp hướng đến chuyển đổi nông nghiệp đa chức năng và chuyển đổi sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Nội dung Phần 2 mang đến những luận giải sâu sắc và có giá trị thực tiễn về chủ đề chuyển đổi sinh thái - xã hội trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời đưa ra những hàm ý chính sách góp phần cung cấp những luận cứ cho quá trình hoạch định chính sách.
Sau hơn 3 năm triển khai dự án, chúng tôi rất vui mừng vì đã đón nhận những phản hồi tích cực từ cộng đồng khoa học và các nhà hoạch định chính sách với những ấn phẩm thường niên về chuyển đổi sinh thái - xã hội trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa Viện Chính sách và Quản lý và RLS SEA. Chúng tôi kỳ vọng rằng, ấn phẩm tiếp theo này sẽ tiếp tục lan tỏa và phát triển các định hướng nghiên cứu về chuyển đổi sinh thái - xã hội trong sản xuất nông nghiệp, cũng như mở rộng mạng lưới nghiên cứu, các diễn đàn khoa học liên ngành mang tầm khu vực về vấn đề chuyển đổi kinh tế, sinh thái - xã hội trong thời gian tới.
Với ý nghĩa và giá trị lý luận và thực tiễn của nội dung cuốn sách, xin trân trọng giới thiệu công trình nghiên cứu này tới các chuyên gia, các học giả, nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và các độc giả gần xa.
[EBOOK] SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM TỪ CÁCH TIẾP CẬN CHUYỂN ĐỔI SINH THÁI - XÃ HỘI: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH (AGRICULTURAL PRODUCTION IN VIETNAM FROM THE SOCIAL-ECOLOGICAL TRANSFORMATION APPROACH: OPPORTUNITIES, CHALLENGES AND POLICY IMPLICATIONS), ĐÀO THANH TRƯỜNG VÀ PHILIP DEGENHARDT (ĐỒNG CHỦ BIÊN), NXB LAO ĐỘNG
Quý bạn đọc có thể tải ebook trên về tại đây: PART 1 / PRRT 2.
Từ khóa: ebook, giáo trình, Sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam từ cách tiếp cận chuyển đổi sinh thái - xã hội: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách, Tiếp cận chuyển đổi sinh thái-xã hội với sản xuất nông nghiệp, Đảm bảo và phát triển hệ thống lương thực, thực phẩm, nông sản trong bối cảnh chuyển đổi sinh thái-xã hội ở Việt Nam
[EBOOK] SỔ TAY TƯ VẤN PHÁT TRIỂN CƠ SỞ NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN, TSKH. BẠCH QUỐC KHANG (CHỦ BIÊN) ET AL., NXB NÔNG NGHIỆP
Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn trong các lĩnh vực bảo quản, chế biến nông, lâm sản, tiểu thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, cơ điện nông nghiệp... ở quy mô nhỏ và vừa, kết hợp công nghệ cổ truyền với hiện đại là một trong những hướng đi quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Một mặt tạo được nhiều việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, mặt khác góp phần giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng nông, lâm sản, cũng như tạo ra nhiều hàng hoá có giá trị, đáp ứng nhu cầu nội tiêu và tiến tới xuất khẩu. Không những thế, việc phát triển ngành nghề còn góp phần thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến và dịch vụ.
Cục Chế biến nông lâm sản và Nghề muối đã tổ chức biên soạn bộ sách “Khuyến công”, nhằm giúp nông dân có thêm thông tin để tìm hiểu, chọn lọc và ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật về công nghệ, thiết bị trong phát triển một số ngành nghề ở nông thôn.
Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã nhận được sự hợp tác nhiệt tình của các tác giả, nhiều nhà khoa học và nhiều cơ quan, đơn vị, nhất là của các viện nghiên cứu trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. Chúng tôi xin chân thành cám ơn và rất mong nhận được sự hợp tác, giúp đỡ ngày càng chặt chẽ và hiệu quả hơn trong lĩnh vực này.
Đây là những cuốn sách nằm trong chương trình khuyến công hàng năm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phục vụ nông dân. Hy vọng bộ sách sẽ được chuyển tới tay bà con nông dân, được sử dụng một cách có hiệu quả nhất. Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của người sử dụng để bộ sách ngày càng được hoàn thiện hơn.
[EBOOK] SỔ TAY TƯ VẤN PHÁT TRIỂN CƠ SỞ NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN, TSKH. BẠCH QUỐC KHANG (CHỦ BIÊN) ET AL., NXB NÔNG NGHIỆP
Quý bạn đọc có thể tải ebook trên về TẠI ĐÂY.
Từ khóa: ebook, giáo trình, sổ tay nghề nông, phát triển cơ sở nghề nông, phát triển nông thôn, nghề nông thôn, kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn
[EBOOK] THƯ VIỆN NÔNG THÔN, NGUYỆT ÁNH VÀ ĐỖ HỮU DƯ (BIÊN DỊCH), NXB VĂN HÓA
Cuốn sách này do phòng nghiên cứu nghiệp vụ Thư viện Quốc gia Liên Xô mang tên V. I. Lê-nin biên soạn, trên cơ sở lồng hợp kinh nghiệm hoại động của các thư viện nông thôn ở Liên Xô vào những năm 70. Sách được trình bầy dưới dạng tra cứu dùng cho các thư viện huyện, cụm, thư viện xã, các phòng đọc sách và tủ sách xã, hợp tác xã và tạp đoàn sản xuất hiện nay, trên đất nước ta đã xây dựng được gần với thư viện huyện, gần 2000 thư viện xã và vài ngàn phòng đọc sách, tủ sách cơ sở ở nông thôn. Quy chế của thư viện huyện và thư viện xã do Bộ Văn Hóa ban hành lá cơ sở về tổ chức hoạt động của các thư viện trên địa bàn cấp huyện. Tuy nhiên, với những biến đổi lớn ở nông thôn hiện nay về mặt kinh tế, xã hội, đã đặt ra những vấn đề mới cho các thư viện có liên quan đến đối tượng phục vụ và nội dung hoạt động. Cuốn sách trình bầy một cách đa dạng các hình thức và phương pháp công tác mới, chỉ dẫn sáng tỏ cơ cấu vốn sách nhằm thỏa mãn một cách đầy đủ những yêu cầu đọc của các tầng lớp nhân dân ở nông thôn mới xã hội chủ nghĩa.
Vớt tư cách là các thư viện công cộng tổng hợp, ngoài nhiệm vụ chính phục vụ việc nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, các thư viện huyện, xã, hợp tác xã còn có nhiệm vụ giúp xây dựng con người mới phát triển toàn diện. Những biện pháp tuyên truyền giới thiệu các tài liệu xã hội chính trị, khoa học tự nhiên và thẩm mỹ là những bài học rất quý báu về thực tiễn đối với chúng ta. Ngoài ra, cuốn sách cũng giành một chương để hướng dẫn đọc cho thiếu nhi. Bằng cách phân tích tâm lý các lứa tuổi và nhu cầu đọc, chúng ta nắm được một cách toàn diện các biện pháp về chuyên môn cần thực hiện đối với thế hệ đang trưởng thành qua công tác sách.
Quá nửa cuốn sách đề cập đến những vấn đề kỹ thuật của các thư viện nông thôn và chúng tôi đã lược bỏ bởi vì, những vấn đề đó đã được đề cập trong cuốn "Sổ tay thư viện huyện, xã" do Nhà xuất bản Văn Hóa xuất bản năm 1979.
Chúng tôi lưu ý các trường thư viện huyện và phụ trách các thư viện, phòng đọc sách, họp tác xã chương phân tích nhu cầu đọc nâng cao trình độ nghề nghiệp của nhân dân nông thôn, đồng thời, đề nghị, khi sử dụng sách, cần vận dụng một cách sáng tạo các kinh nghiệm, trên cơ sở đặc điểm cụ thể của địa phương mình.
Hy vọng tập sách này sẽ góp phần nâng cao thêm một bước chất lượng và trình độ hoạt động của các thư viện nông thôn nước ta, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế mới, nền văn hóa mới và con người mới ở cơ sở.
[EBOOK] THƯ VIỆN NÔNG THÔN, NGUYỆT ÁNH VÀ ĐỖ HỮU DƯ (BIÊN DỊCH), NXB VĂN HÓA
Quý bạn đọc có thể tải ebook trên về TẠI ĐÂY.
Từ khóa: ebook, giáo trình, sổ tay thư viện nông thôn, thư viện ở nông thôn, tổ chức thư viện ở nông thôn, phát triển nông thôn, nông nghiệp và phát triển nông thôn
[EBOOK] GIÁO TRÌNH MARKETING NÔNG NGHIỆP, PGS. TS. NGUYỄN NGUYÊN CỰ (CHỦ BIÊN) ET AL., ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập vào nền kinh tế Thế giới, nông nghiệp nước nhà đang đứng trước những cơ hội và thách thức rất lớn.
Để quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh nông - lâm - ngư nghiệp có hiệu quả, nhu cầu được học tập và trang bị những kiến thức lý thuyết và thực hành Marketing nông nghiệp đang đặt ra hết sức cấp thiết.
Cuốn sách “Marketing nông nghiệp” do tập thể giáo viên Bộ môn Quản trị kinh doanh - Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội biên soạn, được dùng làm tài liệu giảng dạy và học tập cho giáo viên và sinh viên chuyên ngành kinh tế nông nghiệp và quản trị kinh doanh nông nghiệp. Ngoài ra cuốn sách cũng có thể là tài liệu bổ ích cho các giáo viên và sinh viên các chuyên ngành khác có liên quan, các cán bộ nghiên cứu và các cán bộ hoạt động thực tiễn trong ngành nông -lâm - ngư nghiệp, các nhà hoạch định chính sách và quản lý nông nghiệp.
Những nội dung được đề cập trong cuốn sách ngoài những nguyên lý cơ bản và hệ thống của khoa học Marketing, cuốn sách đã bước đầu nêu được những đặc điểm cơ bản và sự vận dụng khoa học Marketing trong hoạt động thực tiễn của nền nông nghiệp Việt Nam khi tham gia vào nền kinh tế thị trường.
Tham gia biên soạn là những giảng viên có nhiều năm giảng dạy Marketing nông nghiệp, được phân công cụ thể như sau:
- PGS. TS Nguyễn Nguyên Cự - Chủ biên và viết các chương I; VIII; IX.
- KS. Hoàng Ngọc Bích viết các chương II; X.
- ThS. Đặng Văn Tiến viết các chương III; IV; VII.
- KS. Đỗ Thành Sương viết các chương V; VI.
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các đồng nghiệp trong Bộ môn Quản trị kinh doanh và Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, các nhà khoa học đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong quá trình soạn thảo cuốn sách này.
Mặc dầu đã có nhiều cố gắng, nhưng do lần đầu tiên ra mắt nên cuốn sách không thể tránh khỏi thiếu sót và hạn chế. Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của tất cả các độc giả và xin chân thành cảm ơn.
[EBOOK] GIÁO TRÌNH MARKETING NÔNG NGHIỆP, PGS. TS. NGUYỄN NGUYÊN CỰ (CHỦ BIÊN) ET AL., ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Quý bạn đọc có thể tải ebook trên về TẠI ĐÂY.
Từ khóa: ebook, giáo trình, Marketing nông nghiệp, giáo trình Marketing nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp, kinh tế và phát triển nông thôn, quản trị kinh doanh nông nghiệp
[EBOOK] ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN TỚI ĐÓI NGHÈO, JUDY L. BAKER, VŨ HOÀNG LINH (DỊCH), NXB VĂN HÓA THÔNG TIN
Đánh giá tác động là một phương pháp đo lường kết quả của một chương trình hay dự án trên cơ sở tách biệt với các nhân tố có thể khác.
Đánh giá tác động nhằm vào việc xác định dự án có tạo ra được những tác động mong muốn, và tác động đó có phải do việc thực hiện dự án mang lại hay không? Các nhận thức thu được từ các nghiên cứu đánh giá dự án sẽ cung cấp đầu vào quan trọng cho việc thiết kế đúng đắn các dự án trong tương lai.
Cuốn "Đánh giá tác động cửa các dự án phát triển tới đói nghèo - Sổ tay dành cho cán bộ thực hành" này nhằm mục đích cung cấp cho các nhà quản lý dự án và các nhà phân tích chính sách các công cụ cần thiết cho việc đánh giá tác động của dự án.
Nội dung cuốn sách, ngoài Lời nói đầu, gồm có 4 chương và 6 phụ lục.
Chương 1: Trình bày một cách tổng quát về các khái niệm và phương pháp đánh giá tác động.
Chương 2: Nêu các bước quan trọng trong thiết kế thực hiện đánh giá tác động.
Chương 3: Minh họa các kỹ thuật phân tích đa dạng thông qua một nghiên cứu tình huống.
Chương 4: Thảo luận các bài học kinh nghiệm từ những đánh giá thành công của một số dự án về đói nghèo.
Trong phần Phụ lục, đề cập tới các nghiên cứu tình huống, và nêu những ví dụ tiêu biểu về các thành phần quan trọng cần thiết cho việc hoạch định bất kỳ một đánh giá tác động nào.
Những ví dụ minh họa trong cuốn sách tập trung vào việc đánh giá tác động của các dự án hướng tới người nghèo.
Chúng tôi dịch và xuất bản cuốn sách trên với mong muốn cung cấp cho bạn đọc một tài liệu tham khảo bổ ích trong lĩnh vực này.
Trong quá trình biên dịch, mặc dù người dịch, những người biên tập đã có nhiều cố gắng, nhưng do có nhiều thuật ngữ kỹ thuật mới, chưa có những khái niệm tương đương ở nước ta nên khó tránh khỏi những chỗ khó diễn tả, thiếu sót...
Nhà xuất bản xin giới thiệu cuốn sách và mong nhận đựơc những ý kiến đóng góp của bạn đọc.
[EBOOK] ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN TỚI ĐÓI NGHÈO, JUDY L. BAKER, VŨ HOÀNG LINH (DỊCH), NXB VĂN HÓA THÔNG TIN
Quý bạn đọc có thể tải ebook trên về TẠI ĐÂY.
Từ khóa: ebook, giáo trình, xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, Đánh giá tác động cửa các dự án phát triển tới đói nghèo, khái niệm và phương pháp đánh giá tác động, thiết kế thực hiện đánh giá tác động, kỹ thuật phân tích đa dạng thông qua một nghiên cứu tình huống
[EBOOK] PHƯƠNG PHÁP LỒNG GHÉP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀO KẾ HOẠCH PHÁT TRIỀN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG, TS. LÊ ANH TUẤN, VIỆN NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
[EBOOK] PHƯƠNG PHÁP LỒNG GHÉP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀO KẾ HOẠCH PHÁT TRIỀN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG, TS. LÊ ANH TUẤN, VIỆN NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Quý bạn đọc có thể tải ebook trên về TẠI ĐÂY.
Từ khóa: ebook, giáo trình, biến đổi khí hậu, kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu, lồng ghép biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương, thích nghi với biến đổi khí hậu, phát triển nông thôn
[EBOOK] CHO ĐƯỢC CÓ HOA LỢI NHIỀU HƠN VÀ TỐT HƠN, P. BRAEMER, DỊCH GIẢ: NGUYỄN CÔNG TIỂU, SỞ CANH NÔNG
[EBOOK] CHO ĐƯỢC CÓ HOA LỢI NHIỀU HƠN VÀ TỐT HƠN, P. BRAEMER, DỊCH GIẢ: NGUYỄN CÔNG TIỂU, SỞ CANH NÔNG
Quý bạn đọc có thể tải ebook trên về TẠI ĐÂY.
Từ khóa: ebook, giáo trình, cho được có hoa lợi nhiều hơn và tốt hơn, cải tạo đất, chọn giống cây trồng và kĩ thuật trồng trọt, Cách phòng trừ các loại sâu bệnh cho hoa màu, Nghề nông tiến bộ, Làm thế nào mà cải lương được nghề nông ở Bắc Kỳ, Cải lương về đất, Cải lương về cây, Đem cây nơi khác về trồng, Cải lương cách cấy trồng và đồ điền khí
[EBOOK] Bộ công cụ PRA cho VDP (Bộ công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia trong lập kế hoạch Phát triển thôn bản)
[EBOOK] Bộ công cụ PRA cho VDP (Bộ công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia trong lập kế hoạch Phát triển thôn bản)
Quý bạn đọc có thể tải ebook trên về TẠI ĐÂY.
Từ khóa: ebook, giáo trình, bộ công cụ PRA, VPD, quy hoạch đất đai, phát triển nông thôn, đánh giá nông thôn, đánh giá đất đai, phát triển thôn bản, lập kế hoạch phát triển nông thôn
[EBOOK] HỎI ĐÁP VỀ THÂM CANH - XEN CANH TĂNG THU HOẠCH, NHIỀU TÁC GIẢ, NXB THANH HÓA
[EBOOK] HỎI ĐÁP VỀ THÂM CANH - XEN CANH TĂNG THU HOẠCH, NHIỀU TÁC GIẢ, NXB THANH HÓA
Quý bạn đọc có thể tải ebook trên về TẠI ĐÂY.
Từ khóa: ebook, giáo trình, hỏi đáp về thâm canh tăng thu hoạch, hỏi đáp về xen canh tăng thu hoạch, hỏi đáp về thâm canh xen canh tăng thu hoạch, kỹ thuật trồng xen cây rừng, kỹ thuật trồng xen cây ăn quả, kỹ thuật nuôi thâm canh cá, kỹ thuật chăn nuôi kết hợp Vịt - Cá - Lúa
[EBOOK] HỎI - ĐÁP VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI VÀ KỸ THUẬT TRỒNG CÂY CÔNG NGHIỆP, PHAN CÔNG CHUNG (CHỦ BIÊN), NXB THANH HÓA
[EBOOK] CÁCH THỨC CẢI TẠO VƯỜN VÀ AO THẢ CÁ Ở GIA ĐÌNH, KS. HÀ THỊ HIẾN, NXB VĂN HÓA DÂN TỘC
[EBOOK] CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI ĐẾN NĂM 2020, BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN, NXB NÔNG NGHIỆP
[EBOOK] GIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ KINH TẾ, PGS. TS. NGÔ THỊ THUẬN (CHỦ BIÊN) ET AL., TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Trước đây, công tác thống kê ở nước ta chủ yếu được áp dụng trong khu vực kinh tế nhà nước nhằm thu thập các thông tin phục vụ cho việc quản lý kinh tế, xã hội của các ngành, các cấp. Cùng với chính sách mở cửa và cải cách quản lý kinh tế, công tác thống kê ngày càng được chú trọng trong các doanh nghiệp ở tất cả các ngành. Để đáp ứng nhu cầu đào tạo ngày càng cao, phù hợp với xu thế ”hội nhập và phát triển ”, Bộ môn Kinh tế lượng, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn biên soạn giáo trình "Nguyên lý thống kê kinh tế”.
Giáo trình được biên soạn theo chương trình môn học đã được Hội đồng khoa học giáo dục Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn thông qua với phương châm chú trọng thực hành, gắn kết với thực tế, có ứng dụng và khai thác các phần mềm tin học thông dụng.
Giáo trình bao gồm các chương:
Từng chương có các bài tập và một số bài có gợi ý cách giải.
Tham gia biên soạn cuốn giáo trình "Nguyên lý thống kê kinh tế” gồm:
- PGS.TS. Ngô Thị Thuận (chủ biên) và viết các chương I, II, III, IV, VI, VII.
- TS. Phạm Vân Hùng viết chương VIII
Chúng tôi hy vọng cuốn giáo trình "Nguyên lý thống kê kinh tế” sẽ phục vụ được đông đảo bạn đọc, các nhà nghiên cứu, các nhà doanh nghiệp và sinh viên các ngành kinh tế, kế toán, quản trị kinh doanh của các trường đại học có các ngành đào tạo này.
Mặc dù các tác giả đã rất cố gắng, song do khả năng có hạn và cùng với những điểm mới bổ sung, nên nội dung giáo trình biên soạn khó tránh khỏi thiếu sót và những hạn chế nhất định.
Chúng tôi mong muốn nhận được các ý kiến đóng góp của bạn đọc để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn.
[EBOOK] GIÁO TRÌNH LUẬT BẢO VỆ THỰC VẬT, PGS. TS. TRẦN VĂN HAI, BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT, KHOA NN&SHƯD, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
I. THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ
Họ và tên: TRẦN VĂN HAI
Bộ Môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ
II. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG
-Giáo trình có thể sử dụng cho các ngành: Nông học, Trồng trọt, Bảo vệ thực vật, Kinh tế nông nghiệp và Kỹ thuật nông nghiệp
-Có thể dùng cho các trường: Trung học kỹ thuật, Đại học nông nghiệp
-Các từ khóa: luật, pháp luật, pháp lệnh, điều lệ, qui phạm, quốc hội, thuốc trừ dịch hại, bảo vệ thực vật, kiểm dịch thực vật, kinh doanh,
-Yêu cầu kiến thức trước khi học môn này: côn trùng, bệnh cây, cỏ dại và hóa bảo vệ thực vật.
-Đã in thành giáo trình tại thư viện đại học Cần Thơ
[EBOOK] GIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ KINH TẾ, TS. MAI VĂN NAM, NXB VĂN HOÁ THÔNG TIN
Trong bối cảnh đào tạo đại học theo tín chỉ hóa thời gian lên lớp được giới hạn và sinh viên được khuyến khích tự tham khảo tài liệu và tự học có hướng dẫn của giảng viên. Nhu cầu về một tài liệu giảng dạy và học tập môn nguyên lý thống kê kinh tế, vừa phù hợp với chương trình đào tạo theo tín chỉ, vừa nhất quán với các môn học định lượng trong chương trình đào tạo bậc đại học là cần thiết. Giáo trình này được biên soạn nhằm mục đích giúp cho bạn đọc am hiểu các vấn đề về lý thuyết, chuẩn bị cho những tiết thực hành trên máy tính có hiệu quả, là cơ sở quan trọng cho người học tiếp cận các môn học chuyên ngành kinh tế.
Để đáp ứng nhu cầu trên. Tác giả thực hiện biên soạn quyển sách giáo trình thống kê kinh tế. Tài liệu này được viết trên cơ sở bạn đọc đã có kiến thức về xác suất thống kê toán, cho nên cuốn sách không đi sâu về mặt toán học mà chú trọng đến kết quả và ứng dụng trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh với các ví dụ gần gủi với thực tế.
Với kinh nghiệm giảng dạy được tích lũy qua nhiều năm, tham gia thực hiện các đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế xã hội: cùng với sự phối hợp và hỗ trợ của đồng nghiệp, đặc biệt của ThS. Nguyễn Ngọc Lam, Tác giả hy vọng quyển sách này đáp ứng được nhu cầu học tập của các sinh viên và nhu cầu tham khảo của các bạn đọc có quan tâm đến nguyên lý thống kê kinh tế trong nghiên cứu kinh tế xã hội.
Trong quá trình biên soạn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quí báu của bạn đọc để lần tái bản sau quyển sách được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cám ơn.
[EBOOK] ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG - PHÁT TRIỂN, NHIỀU TÁC GIẢ, NXB TỔNG HỢP TP. HỒ CHÍ MINH
- Bà con nông dân Đồng bằng sông cửu Long sáng tạo và nhạy bén với khoa học và kỹ thuật, qua những kinh nghiệm sống quý báu, truyền đời này sang đời kia, đã giúp Chương trình kết hợp trên mỗi địa bàn, tư duy với thực tiễn: những câu hỏi, những gợi ý, những phản ánh và phản biện chân thành đều là những thông tin quý báu đối với Chương trình;
- Anh chị em cán bộ khoa học và kỹ thuật sinh viên các trường Đại học đã đóng góp nhiệt tình trên hiện trường cũng như trong phòng thí nghiệm, không quản khó nhọc, để Chương trình có thể triển khai công việc trong điều kiện kinh phí rất hạn hẹp;
- Các nhà khoa học đã tham gia nghiệm thu các đề tài của Chương trình ở các cấp, đã đóng góp nhiều ý kiến bổ ích cho Chương trình;
- Các Trường các Viện và các Trung tâm Nghiên cứu đã tham gia Chương trình và tổ chức nghiệm thu kết quả tại cơ sở;
- Tỉnh ủy và ủy ban Nhân dân của 9 tỉnh Đồng bằng sông cửu Long và các huyện: không có sự giúp đỡ, góp ý, tham gia kiểm nghiệm tại hiện trường của chính quyền địa phương thì công tác điều tra nghiên cứu này khó lòng thực hiện được;
- Các Chương trình trọng điểm Nhà Nước 1981-1985 và 1986-1990 mà kết quả đã được tham khảo và sử dụng trong Chương trình này;
- Các Bộ, Tổng cục, Viện Khoa học Việt nam, Viện Khoa học Xã hội Việt nam, viện Nghiên cứu Năng lượng Nguyên tử Quốc gia, Cục đo đạc Bản đồ Nhà nước, đã đồng ý cho các cơ sở tham gia Chương trình và cho phép sử dụng các tư liệu và số liệu trong tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa;
- Ủy Ban Khoa Học Kỹ Thuật Nhà Nước, Bộ Tài Chính đã tạo điều kiện và đồng ý cho việc thử nghiệm một cơ chế mới về quản lý Chương trình;
- Hội đồng Bộ Trưởng đã đặc biệt quan tâm đến Chương trình, đã theo dõi, góp nhiều ý kiến quý báu, đã sử dụng và gắn Chương trình với các dự án phát triển Đồng bằng sông cửu Long.
[EBOOK] GIÁO TRÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN, TS. DƯƠNG NGỌC THÀNH, BỘ MÔN KINH TẾ - XÃ HỘI - CHÍNH SÁCH, VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN ĐBSCL, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
1.1. VỊ TRÍ CỦA NÔNG NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất định con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có những giải pháp tác động thích hợp với chúng. Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn.
Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản nữa.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Điều đó do tác động của các nhân tố đó là: Sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người.
Các nhà kinh tế học đều thống nhất rằng điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là tăng cung lương thực cho nền kinh tế quốc dân bằng sản xuất - hoặc nhập khẩu lương thực. Có thể chọn con đường nhập khẩu lương thực để giành nguồn lực làm việc khác có lợi hơn. Nhưng điều đó chỉ phù hợp với các nước như: Singapore, A rập Saudi hay Brunay mà không dễ gì đối với các nước như: Trung Quốc, Indonesia, ấn Độ hay Việt Nam - là những nước đông dân. Các nước đông dân này muốn nền kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân được ổn định thì phần lớn lương thực tiêu dùng phải được sản xuất trong nước. Indonesia là một thí dụ tiêu biểu, một triệu tấn gạo mà Indonesia tự sản xuất được thay vì phải mua thường xuyên trên thị trường thế giới đã làm cho giá gạo thấp xuống 50 USD/tấn. Giữa những năm của thập kỷ 70-80 Indonesia liên tục phải nhập hàng năm từ 2,5-3,0 triệu tấn lương thực. Nhưng nhờ sự thành công của chương trình lương thực đã giúp cho Indonesia tự giải quyết được vấn đề lương thực vào giữa những năm 80 và góp phần làm giảm giá gạo trên thị trường thế giới. Các nước ở Châu á đang tìm mọi biện pháp để tăng khả năng an ninh lương thực, khi mà tự sản xuất và cung cấp được 95% nhu cầu lương thực trong nước. Thực tiễn lịch sử của các nước trên thế giới đã chứng minh chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực. Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho các nhà kinh doanh không yên tâm bỏ vốn vào đầu tư dài hạn.
Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị. Điều đó được thể hiện chủ yếu ở các mặt sau đây:
Nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tập trung sống ở khu vực nông thôn. Vì thế khu vực nông nghiệp, nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và đô thị. Quá trình nông nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác đó mà năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao động từ nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều. Số lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đô thị. Đó là xu hướng có tính qui luật của mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quí cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường ...
- Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, bởi vì đây là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiện của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản v.v... trong đó thuế có vị trí rất quan trọng “Kuznets cho rằng gánh nặng của thuế mà nông nghiệp phải chịu là cao hơn nhiều so với dịch vụ Nhà nước cung cấp cho công nghiệp”. Việc huy động vốn từ nông nghiệp để đầu tư phát triển công nghiệp là cần thiết và đúng đắn trên cơ sở việc thực hiện bằng cơ chế thị trường, chứ không phải bằng sự áp đặt của Chính phủ. Những điển Hình về sự thành công của sự phát triển ở nhiều nước đều đã sử dụng tích luỹ từ nông nghiệp để đầu tư cho nông nghiệp. Tuy nhiên vốn tích luỹ từ nông nghiệp chỉ là một trong những nguồn cần thiết phát huy, phải coi trọng các nguồn vốn khác nữa để khai thác hợp lý, đừng quá cường điệu vai trò tích luỹ vốn từ nông nghiệp.
Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp. ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn. Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng có thể cạnh tranh với thị trường thế giới.
Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Các loại nông, lâm thuỷ sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hoá công nghiệp. Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm thuỷ sản. Xu hướng chung ở các nước trong quá trình công nghiệp hoá, ở giai đoạn đầu giá trị xuất khẩu nông lâm, thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng đó sẽ giảm dần cùng với sự phát triển cao của nền kinh tế. ở Thái Lan năm 1970 tỷ trọng giá trị nông, lâm, thuỷ sản trong tổng kim ngạch xuất khẩu chiếm 76,71% giảm xuống 59,36% năm 1980; 38,11% năm 1990; 35,40% năm 1991; 34,57% năm 1992; 29,80% năm 1993 và 29,60% năm 1994.
Tuy nhiên, xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới có xu hướng giảm xuống, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên, tỷ giá cánh kéo giữa hàng nông sản và hàng công nghệ ngày càng mở rộng, làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt.
Ở một số nước chỉ dựa vào một vài loại nông sản xuất khẩu chủ yếu, như Coca ở Ghana, đường mía ở Cuba, cà phê ở Braxin v.v... đã phải chịu nhiều rủi ro và sự bất lợi trong xuất khẩu. Vì vậy gần đây nhiều nước đã thực hiện đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại nông lâm thuỷ sản, nhằm đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước.
Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường. Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh v.v... làm ô nhiễm đất và nguồn nước. Trong quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng v.v... Vì thế, trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường. Tóm lại, nền kinh tế thị trường, vai trò của nông nghiệp trong sự phát triển bao gồm hai loại đóng góp: thứ nhất là đóng góp về thị trường - cung cấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài nước, sản phẩm tiêu dùng cho các khu vực khác, thứ hai là sự đóng góp về nhân tố diễn ra khi có sự chuyển dịch các nguồn lực (lao động, vốn v.v...) từ nông nghiệp sang khu vực khác.




.jpg)













